• Uncategorized

    Ở Nơi Khởi Nguồn Cây Dừa Việt

    Sau lễ cưới giản dị và ấm cúng của hai cháu, ông và tôi ngồi trong vườn dừa lai láng ánh trăng cuối Xuân đầu Hạ trao đổi đủ thứ chuyện, nhưng chuyện gì rồi cũng trở lại với cây dừa Tam Quan.

    Nắm chặt tay tôi, ông hỏi thật thân tình: “Anh cưới vợ cho cháu chi mà xa xôi dữ vậy?”. Giọng của ông vừa thông cảm, vừa ngạc nhiên. Ông là ông nội của cháu dâu tôi, ở Hoài Nhơn, Bình Định. Tôi là cậu ruột của chú rể, ở tít trong huyện Cầu Kè, Trà Vinh.
     
    Dừa Tam Quan. Suối Vàng ở Hoài Nhơn.
     
    Quả là xa xôi thật, nhưng thời trẻ ông và tôi còn “yêu vạn dặm”, thì nay con cháu yêu “vượt biên giới” cũng là lẽ thường. Thời ông, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, bây giờ con cháu bảo đi cưới ai là gia đình phải nghe theo. Tôi nhủ thầm và nghĩ chắc ông cũng “thoáng” như tôi. 
     
    Sau lễ cưới giản dị và ấm cúng của hai cháu, ông và tôi ngồi trong vườn dừa lai láng ánh trăng cuối Xuân đầu Hạ trao đổi đủ thứ chuyện, nhưng chuyện gì rồi cũng trở lại với cây dừa Tam Quan.
     
    Từ thời tiểu học tôi đã được biết dừa Tam Quan qua câu ca: 
     
    Công đâu công uổng công thừa
    Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan
     
    Nhưng tận đến hôm nay mới thấy cả một vùng phía bắc tỉnh Bình Định rợp bóng dừa. Sao gọi là dừa Tam Quan mà không là dừa Hoài Nhơn, vì Tam Quan chỉ là một trong hai thị trấn của huyện này, mà đã là thị trấn thì nhà nhiều hơn vườn? 
     
    Tôi “đem thắc mắc” này hỏi, ông nói: Hồi còn con nít, ông nội đã dạy tôi leo dừa. Ông nội tôi kể, vườn dừa nhà mình có từ thời ông nội của ông nội. Anh tính đi, năm nay tôi 82 tuổi, như vậy, vườn dừa này đã quá cổ! Vườn thì cổ nhưng chỉ vài chục cây trên dưới 70 năm, còn thì được trồng thay thế dần.
     
    Theo tôi, người ta lấy địa danh Tam Quan để đặt tên cho vùng dừa Hoài Nhơn là do hồi xửa hồi xưa, Tam Quan là nơi có cây dừa đầu tiên, trước xa thời đất Bình Định ngày nay còn là của Vương quốc Chămpa với thành Vijaya, hơn 1.000 năm trước.
     
    Khi chiếm được thành Vijaya, ngày 2 tháng 3 năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã sáp nhập các địa khu Amaravati và Vijaya, lập nên thừa tuyên Quảng Nam và duy trì vệ quân Thăng Hoa ở đây, có lẽ vùng Tam Quan đã rợp bóng dừa. 
     
    Vậy thì từ đâu mà có dừa Tam Quan? Tôi nhớ các nhà thực vật học từng tranh cãi về nguồn gốc cây dừa. Người thì cho rằng nó xuất xứ ở khu vực Đông Nam Á, người khác khẳng định nó khởi thủy ở miền tây bắc Nam Mỹ.
     
    Hồ nhân tạo Mỹ Bình, nơi cung cấp nước sinh hoạt cho thị trấn Tam Quan.
     
    Các mẫu hóa thạch tìm thấy ở New Zealand cho thấy, các loại thực vật tương tự như cây dừa đã mọc ở khu vực này khoảng 15 triệu năm trước. Thậm chí những hóa thạch về loại thực vật này có niên đại sớm hơn cũng đã được phát hiện tại Rajasthan và Maharashtra, Ấn Độ. 
     
    Như vậy, không phụ thuộc vào nguồn gốc của nó, dừa đã phổ biến khắp vùng nhiệt đới do quả dừa nổi được trên mặt nước và được bảo vệ rất kỹ bằng nhiều lớp vỏ nên đã phát tán rộng khắp nhờ các dòng hải lưu, và có lẽ cũng nhờ những người đi biển xa xưa.
     
    Tại quần đảo Hawaii, người ta cho rằng những người đi biển gốc Polynesia lần đầu tiên đem dừa từ quê hương của họ ở nam Thái Bình Dương tới đây.
     
    Dừa phát triển tốt trên đất pha cát và có khả năng chống chịu mặn cũng như ưa thích nơi có nhiều nắng và lượng mưa hằng năm từ 750 đến 2.000mm, điều này giúp nó trở thành loại cây định cư bên các bờ biển nhiệt đới một cách dễ dàng.
     
    Và biết đâu, có những trái dừa trôi nổi hằng tháng ròng, thậm chí là hằng năm trên đại dương, đã tấp vào biển Tam Quan và nẩy mầm, nhân giống, bởi Tam Quan hội đủ mọi điều kiện cho cây dừa phát triển. Từ Tam Quan, dừa lan rộng ra cả huyện Hoài Nhơn ngày nay.
     
    Cũng giống dừa Tam Quan này, nhưng đem trồng ở bốn huyện quanh Hoài Nhơn là Đức Phổ (Quảng Ngãi), Phù Mỹ, An Lão, Hoài Ân (Bình Định) thì ít trái, trái nhỏ và chất lượng thấp. Lại nữa, chỉ có tắm nước dừa Tam Quan thì con gái vùng này mới có nước da trắng hồng!
     
    Cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 20km về phía Tây có làng Yên Sở, quê hương của võ tướng Phạm Tu, từng một thời được gọi là làng Dừa vì trồng rất nhiều dừa.
     
    Tương truyền đây là loại dừa mà mùa Hạ năm 543, sau khi tiêu diệt quân Lâm Ấp xâm phạm bờ cõi, Phạm Tu đem về trồng tại nơi mình sinh ra. 
     
    Những năm 60-70 của thế kỷ trước, Hãng Phim truyện Việt Nam đã quay những bộ phim Nổi gió, Chị Tư Hậu, Chị Út Tịch, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm… với cảnh những hàng dừa bên dòng kinh y như ở Nam bộ chính là dừa của làng Yên Sở.
     
    Dừa Yên Sở ngày nay không còn nhiều, chính quyền địa phương đã có chủ trương trồng lại dừa, cũng là cách ghi nhớ công ơn của vị tướng tài Phạm Tu đã có công đưa cây dừa từ phương Nam về trồng trên quê hương mình, để ngày nay có nhiều gia đình giàu lên từ nghề buôn dừa và làm bánh gai đặc sản.
     
    Tôi nghĩ, biết đâu dừa Yên Sở chính là dừa lấy từ Tam Quan, vì có khi Phạm Tu truy đuổi quân Lâm Ấp vào tận đất Bình Định ngày nay, nên đã được vua Lý Nam đế phong là Lý Phục Man (thắng giặc Man, Man Di chỉ giặc Lâm Ấp) ngay sau khi thành lập nước Vạn Xuân, tháng giêng năm Giáp Tý (544). 
     
    Một huyện với diện tích tự nhiên chưa đến 42.000ha thì dù dừa có phủ kín cũng chưa phải là nhiều so với Bến Tre (52.000ha) và Trà Vinh (14.000ha), mà nhiều học giả cho rằng, trong quá trình mở cõi, dừa từ Tam Quan theo người lan dần xuống phương Nam, nhưng với gần 3.600ha cho trái quanh năm thì Hoài Nhơn đã thu được mỗi năm khoảng 40 tỷ đồng từ tiền bán dừa trái, chưa kể toàn bộ cây dừa đều rất hữu ích trong cuộc sống thường nhật của con người, dù khó tính thành tiền.
     
    Trong đám cưới của hai cháu tôi tại thôn Cự Lễ, xã Hoài Phú, cách thị trấn Tam Quan về hướng Trường Sơn khoảng 3km đường chim bay, lần đầu trong đời tôi được ăn một món rất lạ là nước mắm dừa.
     
    Cứ nghĩ đây là một loại nước mắm được làm từ cá theo cách thông thường, chủ nhà pha chế thêm một loại gia vị nào đó được chế biến từ cơm dừa nên có vị tuyệt hảo.
     
    Nhưng không phải vậy, nước mắm dừa – đúng như tên gọi của nó – được làm từ nước dừa già, mà chỉ là dừa Tam Quan mới được, với công thức 20 lít nước dừa, đun nhỏ lửa suốt ngày cho đến khi còn lại khoảng 2 lít thì cho muối vừa ăn.
     
    Đơn giản vậy mà sao nó ngon đến mức cứ muốn ăn hoài! Điều thú vị nữa của nước mắm dừa là không chỉ được dùng làm nước chấm, mà còn được dùng như một loại gia vị đặc biệt trong các món chay.
     
    Khi tôi hỏi mua vài lít nước mắm dừa đem vô Sài Gòn làm quà thì không thể có vì ngày nay ít ai làm, do tốn quá nhiều thời gian, với lại giá thành quá cao.
     
    Cánh đồng Hoài Nhơn, nơi cấy giống nếp ngự “siêu đặc sản”.
     
    Hoài Nhơn còn có một “siêu đặc sản”, đó là nếp ngự. Xa xưa, loại thực phẩm nào kèm chữ “ngự” thì quý hiếm lắm, dùng để tiến vua, như “chuối ngự”, “nhãn ngự”.
     
    Riêng nếp ngự của Hoài Nhơn cho đến bây giờ vẫn quý hiếm vì không có nhiều và chất lượng tuyệt hảo: Hạt tròn mẩy, bột nhiều, màu trắng tinh, nấu xôi thì hương thơm bay khắp xóm, vừa dẻo vừa bùi, gói bánh tét, bánh chưng thì để mươi ngày vẫn như bánh vừa nguội sau khi vớt ra, làm bánh hồng thì phải “áo” một lớp bột (bột của chính thứ nếp này) không thì bánh dính vào đồ đựng khó mà gỡ ra.
     
    Vì thế mà nếp ngự trở thành vật phẩm không thể thiếu trong lễ cầu hôn, tiệc cưới vì nó tượng trưng cho sự dẻo dai, bền bỉ, không thể rời nhau của lứa đôi khi đã xe tơ kết tóc. Hèn chi mà đám cưới hai cháu tôi có đến ba món làm từ nếp ngự, là xôi, bánh tét, bánh hồng.
     
    Phải chăng vì thế mà các bà mẹ vùng lân cận thường tìm đến Hoài Nhơn mua nếp ngự về làm tiệc trong ngày hỏi vợ cho con!
     
    Với 15.210ha đất nông nghiệp, mỗi người dân Hoài Nhơn chỉ được chia 600m2 vừa ở vừa sản xuất, nên dù nếp ngự quý như thế, gia đình nào cũng cấy đủ dùng cho ngày giỗ, ngày Tết, bởi phải mất 6 tháng mới thu hoạch, năng suất lại không cao.
     
    Nhưng dừa Tam Quan còn thì nếp ngự Hoài Nhơn chẳng bao giờ mất!
    Published by:
  • Uncategorized

    Về Đất Võ Bình Định

    Bình Định là điểm đến đầu tiên của đoàn công tác TP Hà Nội do Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị dẫn đầu tại các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Chúng tôi về Bình Định không phải để xem các cô gái “bỏ roi đi quyền” như người đời vẫn truyền tụng hay để xem “chị em phụ nữ cầm roi dạy chồng” như cách anh em vẫn tếu táo, mà tháp tùng đoàn lãnh đạo của thành phố đi thăm, làm việc ở một số tỉnh miền Trung và Tây Nguyên theo kế hoạch.

    Chuyến đi ngắn qua nhiều địa phương, mỗi nơi cách nhau cả vài trăm kilômét, lịch làm việc dày đặc, mỗi ngày năm bảy hoạt động khác nhau, nhưng, mọi người đã quen với cái nếp ấy rồi nên không có ai tỏ ra ngần ngại hay phàn nàn gì cả. Anh bạn ở báo Kinh tế Đô thị bảo tôi: em đã quen với cách đi đứng kiểu này rồi. Đi một vài năm nữa rồi cũng nghỉ, để cho lớp trẻ họ đi. Đi như thế, vừa làm nhiệm vụ, vừa học tập, vừa rèn luyện. Nhất cử, tam tứ tiện.

    Đền thờ nhà Tây Sơn (Bình Định). Ảnh: Lê Hoàn
     
    Quả có thế. Xuống sân bay, sau những cái bắt tay chào hỏi là bắt đầu các hoạt động ngay. Trên đường về TP Quy Nhơn, điểm đoàn đến thăm đầu tiên là Bảo tàng Quang Trung và các gia đình chính sách của tỉnh. Tôi đã có một đôi lần đến đây nhưng đây là lần đầu tôi đi theo cách này. Đồng chí Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đi thăm hai gia đình chính sách mà cả hai đối tượng đều là thương binh. Mẹ Hoàng Thị A ở thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, nguyên là một thanh niên xung phong, không thể ngờ là lại có dịp gặp cả Bí thư tỉnh ủy Nguyễn Văn Thiện và đồng chí Phạm Quang Nghị – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, vốn cũng là những người đã từng ở chiến trường như mình trong những ngày kháng chiến gian khổ. Đồng chí Bí thư thành ủy nói vui: ngày mẹ tham gia phục vụ ở chiến trường thì đồng chí Bí thư tỉnh ủy đây cũng lên rừng cầm súng đánh giặc, còn tôi cũng từ Bắc vô nằm rừng vùng Tây Ninh. Cả ba đều ở chiến trường cả. Mẹ cười móm mém: lúc đó cả nước đánh giặc, mọi người đều đi làm cách mạng cả chứ ai đứng bên lề được. Cái lý lẽ giản dị thế thôi, như đòi hỏi của cuộc đời, của đạo lý là vậy. Không tính toán, không lý sự dài dòng mà hành động theo sự đòi hỏi của cả cộng đồng: nước có giặc, là dân, ai cũng có nghĩa vụ đánh giặc như nhau cả. Giản đơn thế nhưng cũng phải học cả một đời. 
     
    Thăm hỏi, tặng quà, cám ơn và nhắc nhở các cán bộ địa phương làm tốt hơn việc chăm lo cho các gia đình chính sách xong, đồng chí Bí thư hỏi nhỏ: ông mất rồi, bây giờ mẹ sống ra sao? Mẹ cười mãn nguyện: tất cả con cái đều đã trưởng thành, tôi giờ có 9 cháu ngoại rồi. Một chút vui ánh lên trên gương mặt, rồi rất nhanh, đồng chí rút ví của mình, lấy mấy triệu đồng, rồi nói: mẹ đông cháu như thế, tôi không kịp mua quà, cũng không có phong bì cho lịch sự hơn, nhờ mẹ mua quà chia cho các cháu cho vui. Mẹ lúng túng cảm động thốt lên Chu cha. Đồng chí lại cười không có chu cha chi cả, chỉ là tấm lòng của tôi với mẹ, có chút quà cho cháu thôi mà. Tay cầm gói quà của thành phố và món quà của đồng chí Bí thư biếu, mẹ cứ lúng túng, muốn nói điều gì đó thay lời cảm ơn mà chưa nói được. Lúc chia tay, mẹ cứ cầm tay một chị trong đoàn nhắc đi nhắc lại mỗi một câu: quý hóa quá! 
     
    Chúng tôi còn bắt gặp một lần nữa ở thôn Bình Hòa, xã An Dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên hình ảnh tương tự như vậy. Thăm gia đình thương binh nặng Nguyễn Bích Xo, biết vợ bác bị xuất huyết não, con dâu bị ung thư, địa phương mới trải qua một trận lụt lớn, ngoài việc trao tặng túi quà của thành phố, đồng chí Bí thư Thành ủy cũng lấy tiền của cá nhân mình tặng gia đình như niềm động viên, khích lệ mọi người vượt qua những lúc khó khăn. Nghĩa tình của những người đã trải qua năm tháng chiến tranh, sự sẻ chia, dù ít nhiều, cũng đều đáng quý. 
     
    Đi trên đất Bình Định lần này, thấp thoáng sau những câu chuyện mà anh em trong đoàn trao đổi với nhau về sự nghiệp nhà Tây Sơn, trong tôi cứ trở đi trở lại một ý nghĩ: khát vọng nào đã nung nấu và thôi thúc “Tây Sơn tam kiệt” đứng lên dựng cờ khởi nghiệp; điều gì đã tập hợp, kết nối cả một tầng lớp văn thần, võ tướng tài giỏi như thế của đất nước xung quanh một con người tài cao, chí cả, nhân ái và cũng rất con người như Nguyễn Huệ? Lại nhớ ý kiến của đồng chí Bí thư thành ủy trong buổi trao đổi với lãnh đạo tỉnh Bình Định: tôi đề nghị các đồng chí suy ngẫm thêm về anh hùng Nguyễn Huệ, về những bài học lịch sử của triều đại ông. Ông là người của những quyết định, những trận đánh lớn và chỉ đánh một trận là giải quyết tất cả: đánh một trận Rạch Gầm – Xoài Mút là xóa sạch âm mưu xâm lược của Xiêm, đánh một trận là thống nhất đất nước, đánh một trận là kết thúc chiến tranh. Chúng ta ở vào hoàn cảnh khác, hành động khác nhưng trước những quyết định có ảnh hưởng đến địa phương mình, cũng nên học cách suy nghĩ đó. Bí thư Thành ủy vốn là cựu sinh viên khoa Lịch sử, chắc những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường hay sau này giữ những trọng trách khác nhau, đồng chí cũng đã suy nghĩ về điều đó nên mới có những gợi mở sâu sắc như vậy. 
     
    Quê hương Tây Sơn của anh em Nguyễn Huệ quả là vùng đất địa linh. Theo nhà thơ Quách Tấn – người đã dành phần lớn quãng đời mình nghiên cứu về nhà Tây Sơn và số phận công trình của ông cũng trải qua nhiều thăng trầm qua mấy cuộc chiến tranh, thì ba phần Tây Sơn thượng, Tây Sơn trung và Tây Sơn hạ gắn với những dãy núi, dòng sông như là ngọn nguồn của những phát tích kỳ lạ. Gạt bỏ đi tất cả những lớp truyền thuyết đậm màu huyền bí thì có thể thấy rằng câu nói “địa linh sinh nhân kiệt” là chuyện hoàn toàn có cơ sở hiện thực. Hoàn cảnh tự nhiên, môi trường sống, các quan hệ xã hội, những vấn đề lịch sử khi đã chín muồi… sẽ sản sinh ra những con người gánh trọng trách lịch sử. Nói như nhà thơ Chế Lan Viên thì lịch sử thường đi những lối không ngờ nhưng thực ra, nếu nhìn kỹ hơn, sâu hơn bằng con mắt phân tích sẽ thấy những quy luật của lịch sử bao giờ cũng hiện hình trong những sự kiện và những con người tiêu biểu ở khía cạnh này hay khác của thời kỳ ấy. Một khi lịch sử đã đặt vào vai họ nghĩa vụ nào đó thì cũng chính thời đại sẽ tạo ra những cơ hội để thử thách tài năng và bản lĩnh của họ. Gian nan là nợ anh hùng không phải là phát hiện của một học giả nào mà lại là đúc kết tuyệt vời của nhân dân. Cách lựa chọn hướng vào đời, cách giải quyết những vấn đề của lịch sử ở ba anh em “Tây Sơn tam kiệt” đã chứng minh điều đó. 
     
    Đứng trước pho tượng đồng uy nghi, thể hiện tư thế một võ tướng của Hoàng đế Quang Trung, tôi cứ thầm hỏi: không biết trong tư duy luôn sục sôi những kế sách đánh giặc, thu phục lòng người, chấn hưng đất nước ở ông, điều gì làm cho ông đau đáu nhất? Ba mươi chín năm sống trong dương thế, khởi nghiệp từ khi tuổi chưa đến 30, đúng như Đô đốc Bùi Thị Xuân đã nói “về tài ba thì Tiên đế ta bách chiến bách thắng, hai bàn tay trắng dựng nên cơ đồ”. Cái mỹ từ “người anh hùng áo vải” người đời vinh danh ông thật đẹp nhưng tôi vẫn thích hình ảnh ông trong ngày 5 Tết Kỷ Dậu cưỡi voi vào thành Thăng Long “áo chiến bào sạm đen khói súng”, vẫn thích tưởng tượng ông trên soái thuyền chỉ huy trận đánh Rạch Gầm – Xoài Mút lịch sử, tấm chiến bào trên vai ông phồng lên như một cánh buồm. Đánh bộ hay đánh thủy, hỏa công hay thủy chiến, bí mật bất ngờ hay thần tốc táo bạo, dùng tượng binh hay kỵ binh, trận nào cũng khiến kẻ thù bạt vía kinh hồn. Ngay cả câu chuyện “giả vương” của ông vua quan nhà Thanh biết mà vẫn phải ngậm bồ hòn làm ngọt đã nói lên cái uy phong của ông khiến kẻ thù phải nể sợ thế nào. 
     

     

    Vẫn biết, mọi so sánh đều khập khiễng nhưng có lẽ chỉ Hoàng đế Quang Trung mới có những tuyên bố gạt bỏ mọi đắn đo sau trước, dám nói thẳng, nói thật lòng mình, nhân danh đất nước mình với kẻ thù như vậy. Tuyên ngôn của ông đánh cho để tóc dài, đánh cho để răng đen, đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ nói lên tất cả tầm vóc lớn lao của tư tưởng cầm quân nơi ông. Tôi thấm thía vô cùng lời dạy: chỉ có đánh cho kẻ thù tan mộng xâm lăng thì mới giữ được chủ quyền lãnh thổ, mới bảo vệ được truyền thống văn hóa của dân tộc mình.
    Published by: